CƠ CHẾ ỨNG DỤNG NGŨ HÀNH CỦA CANH DƯỠNG SINH


ÂM DƯƠNG

Người ta sống được là nhờ âm dương thăng giáng, thủy hỏa tác dụng lẫn nhau; nếu gìn giữ cho sự thăng giáng uà tương tác được bình hòa thì khắc chế được bệnh tật, kéo dài tuổi thọ.


NGŨ HÀNH

Ngũ tạng lò tâm, can, tỳ, phế, thận, ứng uới sự biến chuyển của ngũ hành. Vòng tròn bao quanh ð cánh sao chỉ thế tương sinh: Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Rim, Kim sinh Thủy. Năm cánh sao chỉ rơ năm thế tương khắc: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.

Người xưa quan niệm rằng từ khi mù mịt không có gì thì gọi là Vô cực, đến khi thành hình mới gọi là Thái cực. Thái cực động thì sinh ra Dương, tĩnh thì sinh ra Âm. Thái cực có thể nâng lên dìm xuống, phình ra hóp vào, khi đầy khi vơi. Muôn vật từ đấy sinh ra, giống có thai có vú, giống đẻ trứng đẻ con, thì sinh hóa bằng hình thể, có tri giác, có sinh sản, không loài nào mà không bẩm thụ khí của Âm Dương để thành hình.


Từ quan niệm đó, sách cổ nói rằng Âm Dương tuy vô hình mà vẫn là căn bản cho mọi sinh vật, và biểu hiện của nó có thể là rét và nóng là đức năng của Âm Dương, thủy và hỏa là dấu hiệu của Âm Dương. Phàm trai gái lúc sinh ra đều bẩm thụ chất thuần dương; trai đến khoảng 15-16, gái đến khoảng 13-14 trở đi thì mới có thiên quý tức là âm tinh, trai có tinh dịch, gái có kinh nguyệt, lúc đó răng mới thay hết, tóc mới mọc dài. Đến khi trai đã 64 tuổi, gái 49 tuổi thì “thiên quý” đó hết mà đa số không sinh dục được.

Sách Hoàng Đế nội kinh có viết: “Con người sống được đến 40 tuổi thì âm khí suy đi một nửa”. Người ta tóm tắt sự kiện này ở câu Dương thường hữu dư, Âm thường bất túc. Nói như vậy nghe thấy bí hiểm khó hiểu, nhưng đối chiếu với khoa học đời nay, ta biết rằng với tuổi tác, lưu lượng máu bơm lên não giảm đến 20%, hoạt lượng của phổi giảm 40%, lượng máu ở tim giảm 30% và tuổi 40 là tuổi bản lễ, chuyển từ lên đến xuống. Người ta sống được là nhờ âm dương thăng giáng, thủy hỏa tác dụng lẫn nhau, nếu gìn giữ cho sự thăng giáng và tương tác được bình hòa thì kéo dài tuổi thọ, đẩy lui được thời kỳ lão suy. Người trẻ tuổi dương khí thịnh ở trên, nên ưa chạy nhảy, hoạt động; người lớn tuổi, dương khí suy ở dưới, nên thích ngồi, thích nằm. Vì vậy, tuổi trẻ có bệnh thì người xưa thường ức chế khí hồa quá vượng; trái lại, người già có bệnh thì phải bôi bổ hỏa cho khỏi thiếu.

Từ những cơ sở kiến thức ấy, nhà khoa học đời nay mới tìm ra loại thuốc bồi bổ sự quân bình đó trong các tế bào của cơ thể, nhất là tế bào não.

Ngoài Âm-Dương, Lập Thạch Hòa còn quan tâm đến ngũ hành, một khái niệm căn bản khác của phương Đông. Chúng ta biết ngũ hành đó biến chuyển theo vòng tương sinh là Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ lại sinh Kim.

Chúng ta cũng biết rằng ngũ hành biến chuyển theo vòng tương khắc là Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa lại khắc Kim. Cho dễ nhớ, hãy vẽ ra một ngôi sao năm cánh mà mỗi góc thuộc một hành theo thứ tự Kim, Thủy, Mộc, Hỏa và Thổ. Hình tròn bao quanh năm đỉnh của ngôi sao là vòng tương sinh theo thứ tự đó. Ngược lại, năm cánh của ngôi sao chỉ ra năm thế tương khắc như vừa nói ở trên.

Những nguyên lý này liên hệ gì đến chuyện dưỡng sinh, ăn uống và rau cỏ của chúng ta?

Đông y cho biết ngũ tạng trong con người ta cũng ứng vào ngũ hành, như tâm bào lạc thuộc hỏa, can (gan) thuộc mộc, tỳ thuộc thổ, phế (phổi) thuộc kim, thận thuộc thủy. Và năm vị chúng ta nếm được là cay, ngọt, mặn, đắng, chua cũng ứng với âm dương và ngũ hành. Hai vị cay và ngọt có dược tính là ôn, bổ, thăng (bốc), thuộc phần dương. Chua, mặn và đắng có dược tính là mát và giáng (chìm), thuộc phần âm. Dương thì nổi lên; âm thì lắng xuống; vị cay hay tán (tan, lan rộng); vị chua hay thu liễm (làm các tế bào co lại); mặn thì hay nhuận, mềm; đắng hay tả ra; ngọt hay hòa hoãn.

Khởi đi từ nguyên lý đó và sau khi khảo sát rất nhiều cây cổ thảo mộc, người ta suy ra một số điều sau đây đã được chứng nghiệm. Vị mặn tiết vọt ra (làm tiết nước ra) thuộc âm: khi dùng muối ướp thịt cá, ta làm nước thoát khỏi các tế bào khiến miếng thịt săn lại. Vị nhạt ngấm vào, thuộc dương với quy tắc dương ở trên, âm ở dưới.

Tính của chua thuộc dương và vị lại thuộc âm, cho nên có những vị thuốc hay rau cỏ hoàn toàn thuộc dương (gọi là thuần dương), có vị hoàn toàn thuộc âm (thuần âm); có loại thuốc loại rau chứa hai ba vị hoặc hai ba khí, khi dùng thuốc, có khi ta chỉ dùng khí của nó, có khi dùng vị..

Nói chung, vị ngọt là nguồn gốc của mọi loại bổ (bồi bổ), vị đắng là nguôn gốc của mọi loại tả (trừ khử), cay thơm đều có tác dụng hai mặt là thăng giáng, chua và mặn cũng đều có tác dụng hai mặt là thu liễm và giáng xuống.

Cũng từ âm dương ngũ hành, chúng ta biết thêm là y học còn để ý đến từng phần trong cây thuốc. Phần nẩy mầm lên được gọi là đầu rễ, khí mạch của nó là đi lên; phần chui xuống đất (ta gọi nôm na là rễ hay củ) là đuôi rễ, khí mạch của nó là đi xuống; phần ở giữa là thân rễ, khí mạch của nó giữ ở phần giữa.

Nhờ nguyên lý ấy, ta mới hiểu vì sao dưỡng sinh thang dùng cả củ lẫn lá cải, nhưng chỉ dùng củ của cây ngưu bàng và cà rốt.

NGUỒN GỐC DƯỠNG SINH THANG

Từ ngũ tạng là tâm, can, tỳ, phế, thận ứng với ngũ hành, Lập Thạch Hòa tìm ra năm loại rau cỏ ông ghi ở năm màu của ngũ hành:

Màu xanh lục thuộc hành mộc là lá cải;

Màu đỏ thuộc hành hỏa là củ cà rối;

Màu vàng thuộc hành thổ là củ ngưu bàng;

Màu trắng thuộc hành kim là cải củ; và sau cùng,

Màu đen thuộc hành thủy là nấm đông cô.


Thực ra, cũng từ nguyên lý đó, nhiều loại cây cỏ chúng ta dùng hàng ngày có những đặc tính nằm trong âm đương và ngũ hành nhưng chúng ta ít để ý mà thôi. Thí dụ như rau tía tô và kinh giới đều thuộc bộ mộc: vị cay, tính ấm và không độc; nhưng tía tô thuộc âm và kinh giới lại là dương dược, y như rau bạc hà. Bộ thổ thì có gừng, cam thảo, long nhãn, thảo quả; nhưng cam thảo là đương trong âm, gừng có đặc tính bẩm thu khí dương; thảo quả vị cay mà nóng, khí mạnh mà nặng, tính đưa lên mà tán ra, thuộc loại dương dược.

Cây cải trong dưỡng sinh thang có vị cay, không độc, dùng thì bổ vào Thủ thái âm và Túc thái âm, và có tính năng trừ bệnh ho suyễn (công dụng hàng đầu), nghiền với giấm mà bôi thì trừ được độc sưng ngoài da, ăn vào tỳ thì khỏi bệnh trướng bụng khó tiêu. Củ cải dùng sống thì có vị cay, tính hàn; nhưng nấu chín lại có vị ngọt, tính bình; củ thì ăn sống được nhưng lá nên nấu chín. Loại củ này có khả năng giải độc trong bột mì, tiêu chất ăn ngũ cốc, trừ đờm tích, giải ho, ngăn được thổ huyết và có tác dụng hạ huyết rất nhanh.

Khi than phiền về khoa học hiện đại xay gạo quá sạch làm mất hết chất bổ, có lẽ nhà nghiên cứu Lập Thạch Hòa đã nhớ đến một câu truyện trong sách cổ về Đông y. Ngày xưa, một thầy tăng Thiên Trúc vào Trung Nguyên, thấy người Trung Hoa ăn miến sợi bột lọc mà kinh hãi thốt lên: “Ăn củư ấy mờ chả sinh bệnh sơo?”. Lý do là bột được lọc quá kỹ làm mất nguyên chất và dễ sinh ra bệnh đờm. Đến khi nhà sư thấy dân nơi đó ăn củ cải bèn mừng nói: “Không sinh bệnh là nhờ thú này đây!?

Trong những chương sau, chúng ta sẽ nói đến dưỡng sinh hiện đại với các công trình nghiên cứu về tế bào, thí dụ như trong một cơ thể trưởng thành, con người có thể có mấy ngàn tỷ tế bào và các tế bào này cũng trải qua tiến trình sinh trưởng rồi húy diệt, một người từ 25 tuổi trở lên có thể mất mỗi ngày 100 ngàn tế bào não và phải được thay thế. Con người càng lớn tuổi thì các tế bào càng bớt sinh sản và đến một tuổi nào đó, tế bào hết sinh sản mà chỉ bị phân hủy, đó là khởi đầu của tiến trình lão suy. Xưa nay, chưa ai tìm ra thuốc trường sinh bất tử, nhưng người ta có thể trì hoãn tiến trình lão hóa và thời điểm lão suy đó nếu biết phương thuốc giúp cho các tế bào tái sinh, và chọn phương thuốc theo nguyên lý âm dương, kết hợp với ngũ hành.

Môn dưỡng sinh thang của Lập Thạch Hòa là phương thuốc đó.